Tuesday, June 14, 2016

CÚNG DƯỜNG MƯỜI HAI TRỜI ĐẠI UY ĐỨC

CÚNG DƯỜNG MƯỜI HAI TRỜI ĐẠI UY ĐỨC
PHẨM BÁO ÂN
_MỘT QUYỂN_    
Hán dịch: BẤT KHÔNG
Việt dịch: HUYỀN THANH

Bấy giờ Bồ Tát Phổ Hiền quan sát Người, Trời xót thương tất cả không ngưng nghỉ, tự nói rằng:”Tất cả chúng sinh: 4 Đại luôn thay đổi không ngừng, có mọi thứ bệnh, hoặc Quỷ Ma đến gây ra mọi thứ bệnh mê đảo Thế Gian giảm bớt Thọ Mệnh. Làm sao đối trị được mọi thứ gây tổn hại bên trong bên ngoài như vậy? Vì chúng sinh chẳng tri ân cho nên có sự trái ngược như vậy.
Dùng cái gì làm Ân? Ấy là các Trời: Địa, Thủy, Hỏa, Phong, Nhật, Nguyệt có ân dưỡng dục bên trong bên ngoài.
Làm sao báo đáp được các Ân như vậy? Ấy là 4 Đại Chủng có phần tinh túy là Trời với nhóm Nhật Nguyệt
Cúng dường Trời ấy có mọi điều lợi. Khí Giới (giới vật chất) Sinh Giới (giới hữu tình) thảy đều tăng sức mạnh. Ai làm điều ấy? Số lượng bao nhiêu? Ấy là Trời đó có mười hai là: Địa Thiên, Thủy Thiên, Hỏa Thiên, Phong Thiên, Y Xá Na Thiên, Đế Thích Thiên, Điễm Ma Thiên, Phạm Thiên, Tỳ Sa Môn Thiên, La Sát Thiên, Nhật Thiên, Nguyệt Thiên
Địa Thiên vui thời có hai lợi ích. Một là Thân người bền chắc, sắc đẹp sức lực tăng trưởng. Hai là Khí Giới, Địa Chủng tăng trưởng mùi vị, sức lực
Trời này giận thời có hai diều hao giảm. Một là thân người loạn hoại, sắc đẹp sức lực bị giảm bớt. Hai là mùi vị, sức lực của Khí Giới (giới vật chất) và đất đều trái ngược gốc
Thủy Thiên vui thời có hai lợi ích. Một là thân người chẳng bị khát. Hai là mưa thấm ướt theo Thời
Trời này giận thời cũng có hai điều hao giảm. Một là thân người bị khô khát. Hai là Khí Giới bị hạn hán, Thần Hạn hán (bạt), vạn vật khô hết. Hoặc tuôn mưa lớn , Thế Giới ngập nước tuôn chảy làm tổn hoại cây cỏ chẳng kịp cung cấp cho chúng sinh
Hỏa Thiên vui thời có hai lợi ích. Một là nhiệt khí (sức nóng) của thân người tùy thời thêm bớt. Hai là Thời Tiết chẳng nghịch
Trời này giận thời cũng có hai điều hao giảm. Một là sức nóng của thân người thêm bới chẳng đúng thời. Hai là tự nhiên phát lửa thiêu đốt các vật
Phong Thiên vui thời có hai lợi ích. Một là thân người nhẹ nhàng an ổn, cử động tùy theo Tâm Ý. Hai là Khí Giới không có nghiêng động mà tùy Thế Gian có gió lạnh ôn hòa chẳng gây hao giảm cho loài Tình (Hữu Tình) Phi Tình (Vô Tình)
Trời này giận thời cũng có hai điều hao giảm. Một là thân người với âm thanh chẳng được tùy ý. Hai là gió lớn thổi tràn tàn phá Thế Gian. Hoặc chẳng nổi gió khiến cho cây cỏ chẳng thuận theo Thời.
Nếu có 4 Đại Tinh như vậy. Trời giận dữ gây nạn thì nhà vua và người dân vào ở trong Tháp Ngũ Luân của Như Lai, thọ trì các Giới, quy y Tam Bảo, nhiếp tâm mà trụ nên tác Quán này
Đất y theo nước sinh, vì tính của nước trống rỗng cho nên đất cũng vô thường.
Nước y theo gió sinh, vì tính của gió trống rỗng cho nên nước cũng vô thường.
Lửa y theo nước, gió sinh; vì tính của nước, gió trống rỗng cho nên lửa cũng vô thường.
Gió y theo hư không, vì hư không không có thể cho nên gió cũng vô thường.
Vì gió trống rỗng nên lửa trống rỗng
Vì lửa trống rỗng nên nước trống rỗng
Vì nước trống rỗng nên đất trống rỗng.
Vì đất trống rỗng nên loài Hữu Tình, Phi Tình sinh ra trên đất thảy đều vô thường
Tác Quán này thời chư Thiên hết giận dữ, không có chỗ y trụ
Khi ấy Hành Giả lại tác Quán này
Hư Không tuy không có, mới có Hư Không,vì thế nên được tên gọi là Hư Không. Tên gọi ắt có Thể. Bời vì Hư Không có cho nên gió cũng có. Vì gió có cho nên nhóm nước, đất thảy đều có Thể.
Tác Quán này thời chư Thiên vui vẻ, uy quang tăng gấp bội, an ổn mà trụ
Y Xá Na Thiên vui thời chư Thiên cũng vui, Ma Chúng chẳng loạn. Xưa gọi là Ma Hê Thủ La (Mahe’svara).
Đức Phật nói:”Nếu cúng dường Ma Hê Thủ La (Đường gọi là: Đại Tự Tại) tức đã cúng dường tất cả chư Thiên”
Trời này giận thời chúng Ma đều hiện, quốc thổ hoang loạn
Thiên Đế Thích là chủ của cõi Địa Cư, ghi nhận mọi điều thiện ác do chúng sinh gây tạo ra. Trời này vui thời quốc thổ an ổn, người dân chẳng loạn
Trời này giận thời xảy ra đao binh chiến tranh, các vua cõi Địa Cư thảy đều chẳng yên
Diễm Ma Thiên vui thời người không bị chết đột ngột, dịch khí chẳng phát
Trời này giận thời người bị chết không đúng thời, dịch khí tràn đầy
Phạm Thiên là chủ của cõi Thượng Thiên,là cha của chúng sinh. Trời này vui thời Khí Thế Gian an ổn không có loạn động, tại vì sao? Vì Vào thời Kiếp Sơ, Trời này thành lập Khí Thế Gian vậy. Chúng sinh không loạn dùng Chính Trị Thế (Trị đời bàng chính pháp) ,sao lại thế? Vì vua cha vui vẻ vậy. 
 Trời này giận thời Thế Gian chẳng yên, có mọi thứ bệnh cho đến cây cỏ thảy đều héo úa rơi rụng, chúng sinh mê hoặc tên gọi như người say
Tỳ Sa Môn vui thời chúng Dược Xoa vui , chẳng hại người dân chẳng hành độc thũng. Khi giận thời đều loạn
La Sát Thiên vui thời các Đạm Hoàn Quỷ Túy cũng vui, chẳng phun khí độc, chẳng gây tạo hạnh ác. Trời này giận thời thảy đều hiện loạn
Nhật Thiên vui thời ánh sáng chẳng làm tổn hại vật, người giận chẳng ngu độn, Hữu Tình, Phi Tình thảy đều khoái lạc
Trời này giận thời mất độ không có ánh sáng, tuy có mắt nhưng chẳng thể thấy vật, lạnh khổ thông nhau lấn bức
Nguyệt Thiên vui thời ánh sáng lạnh tăng thêm khiến cho vật, ngườikhông có bệnh nóng sốt. Khi giận thời buông bỏ hết
Nhật Nguyện trợ nhau chiếu soi có lợi ích lớn, thời tiết hòa dung, chúng sinh làm việc mỗi mỗi tùy vui. Vào thời Kiếp Sơ, con người có sắc đẹp như chư Thiên, dần dần tham đắm mùi vị nên giảm bớt ánh sáng của thân, dời bỏ tâm lành mà tạo nghiệp ác, Thế Gian chẳng thuận mà có lạnh nóng. Chính vì thế cho nên Nhật Nguyệt Thiên dời này hóa thành giấc mộng vậy
Chư Thiên như vậy, lúc nào thì vui vẻ? Lúc nào thì giận dữ? Ấy là quốc vương với các người dân dùng Phi Trị Thế (Trị đời không đúng chính pháp)tạo nghiệp chẳng lành, thường hành giết hại, trộm cắp mà buông bỏ Chính Pháp. Khi ấy chư Thiên đều sinh buồn lo. Buồn lo tức quá liền sinh giận dữ
Nếu thiên tai muốn khởi. Trước tiên có điềm quái lạ là không có mây mà tuôn mưa, các tinh tú tùy loạn (Không mây mà tuôn mưa là nước mắt của chư Thiên ấy buồn khóc vậy). Nếu ngừng nghiệp ác, dùng Chính Trị Thế thì chư Thiên vui vẻ thẩy đều đến hộ giúp, hương thơm xông ướp kháp, tăng thiện giảm ác
Nếu có người biết rõ nhóm Đại Thánh Uy Đức Thiên này dùng Tài Thí (đem tiền của cúng thí) trang nghiêm sinh thân ấy. Sau đó dùng Pháp Thí hiển Pháp Thân ấy kèm hành Từ Bi chẳng giết sinh mệnh. Đem cúng dường này làm báo ân vậy
Đời có số lượng chư Thiên Quỷ Thần rất nhiều, tại sao chỉ cúng dường mười hai Trời khiến an lập quốc thổ, vạn tinh tú an vui? Vì 12 Trời tổng nhiếp tất cả Trời, Rồng, Quỷ, Thần, Tinh Tú, Minh Quan thế nên cúng dường hiểu rõ 12 Trời tức được tất cả hàng Trời Rồng ủng hộ.
Bởi thế nên Địa Thiên với các vị Thần trên mặt đất, các Quỷ Thần ở đống cát , dưới gốc cây đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Thủy Thiên và các vị Thần ở các sông, giòng chảy, sông nhỏ, sông lớn, biển lớn với các chúng Rồng đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Hỏa Thiên và các Hỏa Thần cùng với các Chúng Trì Minh Thần Tiên đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Phong Thiên và các Phong Thần, hàng Vô Hình Lưu Hành Thần đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Y Xá Na Thiên và các Ma Chúng đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Đế Thích Thiên với nhóm Tô Mê Lô (Sumeru: Núi Tu Di) , tất cả các núi là nơi nhiếp hàng Trời, Quỷ… đều đến vào Đạo Trường cùng lúc nhận cúng dường
Diễm Ma Thiên với các hàng Ngũ Đạo Minh Quan, Thái Sơn Phủ Quân, Ty Mệnh, Hành Dịch Thần, các loài Quỷ đói… đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Phạm Thiên với tất cả chư Thiên thuộc trời Tĩnh Lự ở Sắc Giới đều đến vào Đạo Trường cùng lúc nhận cúng dường
Tỳ Sa Môn Thiên với các hàng Dược Xoa, Thôn Thực Quỷ Thần… đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
La Sát Thiên Tử, La Sát, cúng Thực Huyết Quỷ… đều đến vào Đạo Trường cùng lúc nhận cúng dường
Nhật Thiên với các Tinh Chúng, bảy Diệu, các Chấp, Hàng Du Không,tất cả Quang Thần… đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Nguyệt Thiên với các hàng Trụ Không, 28 Tú, 12 Cung Thần, tất cả Tú Chúng… đều đến vào Đàn Trường cùng lúc nhận cúng dường
Nên Quán như vậy.
Thiên Chủ như vậy, thân đối trước Đức Phật thề sẽ phụ giúp thất cả Hữu Tình, hộ trì quốc giới, thủ hộ Chính Pháp. Như khi Triệu Thỉnh thời chẳng vược Bản Thệ quyết định có ảnh hưởng. Trong khoảng thời gian chưa Phát Khiển thì trụ ở Đàn Trường chẳng xa lìa Hành Giả. Chính vì thế cho nên Cúng Dường sau dó nên Cúng Tạ. Các việc thông suốt rồi cầu xin vui vẻ
Lúc Triệu Thỉnh thời dùng các Biệt Ấn Minh, hoặc dùng Tổng Thỉnh Ấn Minh cũng được vậy
Tại sao chỉ có chút ít vật cúng thí lại có thể khiến cho Thiên Chúng với các Quỷ Thần đều được thọ dụng?
Ấy là do 3 loại nghĩa về “chỉ có chút ít vật cúng mà tất cả đều được thọ dụng”
Một là do ba Mật gia trì, tức là vận tâm Pháp Giới Thật Tướng Diệu Cúng
Hai là do Đại Từ Bi
Ba là do các Thiên Chủ có nhiều Phước Lực như loài Rồng có chút ít nước, do Phúc lực của mình nên rưới khắp các Quốc Thổ
Chú nơi chư Thiên, bởi vì Phúc của người ở khắp bốn thiên hạ đều chẳng bằng Phúc Tài của một người ở cõi Tứ Thiên Vương. Tùy theo chí của Trì Chủ thêm bớt mà phước của chư Thiên có nhiều cho nên được cúng chút ít cũng tràn khắp tất cả. Vì Phước của Trời nhiều nên giao phó điều ấy thành rộng
Lại giả sử tuy hình sắc, mùi vị có thấp kém… do ba nghĩa trước đều thành Đề Hồ vi diệu thanh tịnh. Như Kỳ Bà thương tất cả tức vạn vật thành thuốc. Ni Kiện chú vào chất độc thì chất độc trở ngược thành thuốc
Thế gian còn được như thế huống chi Hành Giả tùy thuận Phật Giáo, khởi Đại Từ Bi tác ba Mật gia trì ư!
Lại do Phước của Trời mà vật cúng thấp kém ấy thành vật cúng vi diệu thanh tịnh. Như Thạch Ma Nam được Thạch Thành Vương làm Thế Nữ lấy cát làm vàng. Chúng phu nhân xinh đẹp chẳng ham tiền của thế gian chỉ vui thuận chính bởi vì chẳng khinh việc bố thí ít mà vui thích với Từ Thí (bố thí do tâm hiền lành)vậy
Nếu Trời chẳng ưa thích, liền thỉnh Ngoại Kim Cương Bộ Chủ Tứ Tý Bất Động Phẫn Nộ Minh Vương cúng dường quy y. Lúc đó chư Thiên tùy thuận Giáo Sắc vui vẻ hộ trì vậy
Nếu cúng dường thời (chư Thiên) đến ngồi ở phương nào?
Ấy là: Đế Thích ở phương Đông, Hỏa Thiên ở Đông Nam, Diễm Ma ở phương Nam, La Sát ở Tây Nam, Thủy Thiên ở phương Tây, Phong Thiên ở Tây Bắc, Tỳ Sa Môn ở phương Bắc, Y Xá Na ở Đông Bắc, Bản Tôn (Tứ Tý Bất Động Minh Vương) ở trung ương, bốn góc là Phạm Thiên, Địa Thiên, Nhật Thiên, Nguyệt Thiên. Như vậy mà trụ
Cúng dường như thế nào? Trời nào làm đầu ? Ấy là: hoặc y theo phương vị , bắt đầu từ phương Đông, hồi thuận mà cúng.Hoặc có nguyện riêng (biệt nguyện)y theo Pháp của nhóm Tức Tai mà cúng dường
Nếu cầu Tức Tai, dùng Đế Thích làm đầu
Nếu cầu Tăng Ích, dùng Phạm Thiên làm chủ
Nếu cầu Điều Phục, dùng Đại Tự Tại làm đầu
Nếu cầu Kính Ái, dùng Tỳ Sa Môn làm đầu. Còn lại hồi thuận mà cúng
Hoặc muốn ngừng đao binh, dùng Đế Thích làm chủ
Nếu muốn trừ trừ các nạn Dược Xoa, La Sát..dùng Tỳ Sa Môn La Sát Thiên
Nếu muốn trừ Dịch (bệnh dịch) dùng Diễm Ma Thiên
Nếu muốn trừ nạn hạn hán, Thần hạn hán, hồng thủy… đều dùng Thủy Thiên
Nếu muốn trừ oán tai dùng Phong Thiên và đối với Trời này, cầu nhóm Phong nạn
Nếu muốn điều người dùng Phạm Thiện Vương
Nạn về nước, dùng Hỏa Thiên
Nạn về lửa, dùng Thủy Thiên
Hàng Ma dùng Y Xá Na Thiên hoặc dùng Hỏa Thiên
Trấn nơi ác, dùng Địa Thiên cộng với cầu về Ngũ Cốc
Nếu cầu Quan Vị, dùng Đế Thích Thiên
Nếu cầu Trí, dùng Nhật Thiên 
Nếu cầu Định, dùng Nguyệt Thiên
Nếu muốn trừ bệnh nóng lạnh (hàn nhiệt), tùy dùng Nhật Nguyệt Thiên (Nhật Thiên trừ lạnh, Nguyệt Thiên trừ nóng)
Nếu có bệnh về 4 Đại, tùy dụng Tứ Đại Tinh Thiên
Như vậy làm đầu. Còn lại theo thứ tự hồi thuận mà cúng
Vì phú (giàu có) dùng Tỳ Sa Môn
Vì Quý nên dùng Phạm Thiên
Đồ vật cúng dường ấy đều thuần một vật; nước thơm, hương xoa, hoa mùa, ngũ cốc, cơm (hoặc cháo)đèn cầy, đuốc… cắm đầy một vật khí rồi cúng dường. Đốt hương xống ướp khắp, thanh tịnh như Pháp
Nghi thức cúng dường, các Biệt Ấn Minh với cách vẽ tượng ấy, mọi loại Pháp nghĩa … như Bộ khác nói
Bồ Tát Phổ Hiền vì độ chúng sinh tự hỏi tự đáp nhân duyên như vậy, báo ân như vậy, cầu nguyện như vậy, Pháp Quán như vậy, ba Mật như vậy, phương tiện như vậy, Đại Lực như vậy, tùy ý diễn nói dâng lên Đức Thế Tôn
Đức Thế Tôn nói lời nghĩa lý như vầy:”Lành thay! Lành thay! Như ông đã nói chân thật không hư dối. Mười hai Thiên này tức là chư Phật xa xưa vì độ chúng sinh nên đi đến hiện ra. Chính vì thế cho nên Hành Giả chẳng thể y theo hình Thế Thiên mà chỉ quán Pháp Thân của Thiên ấy để trang nghiêm
Nếu có người tùy thuận Ta với lời ông nói mà cúng dường Trời đó.Ở trước Thiên Tượng này giảng đọc Bát Nhã, Kinh Pháp thâm sâu sẽ khiến cho chư Thiên đều rất vui vẻ vậy
Vì chư Thiên vui vẻ cho nên tất cả chúng sinh đều được vui vẻ. Được tất cả chúng sinh vui cho nên chư Phật cũng vui. Vì chư Phật vui cho nên viên mãn Tất Địa Thế Gian và Xuất Thế Gian

NGHI QUỸ CỦA 12 THIÊN (Một quyển_Hết)

Sunday, January 3, 2016

01.- MƯỜI HAI PHÁI ĐẠO CAO-ĐÀI

01.- MƯỜI HAI PHÁI ĐẠO CAO-ĐÀI
(Tòa-Thánh Châu-Minh, ngày 10-1 năm Đại-Đạo thứ 32, Đinh Dậu 1957)
Bài:
       Niên Đinh Dậu, ĐẠO ba hai lẻ,
       THẦY thấy con còn rẽ chia nhau,
               Như vầy THẦY rất lòng đau,
Bởi nên THẦY mới chuyển mau hội nầy.
       Hội BÌNH-LINH Thầy xây vận chuyển,
       Cho các con hội diện sum vầy,
               Để Thầy cạn lẽ phân bày,
Cho con lớn nhỏ đồng hay máy Trời.
       Thầy nhắc lại thời kỳ khai Đạo,
       Buổi đầu tiên Thầy tạo Chiếu-Minh,
               Rồi lần sang đến Tây-Ninh,
Mở Minh-Chơn-Đạo công trình biết bao!
       Lập Tiên-Thiên Thầy trao gánh nặng,
       Ban Chỉnh Đạo cũng đặng vẹn toàn,
               Tây-Tông Vô-Cực tịnh an,
Bạch-Y Thầy mở liên đoàn Hậu-Giang.
       Trung-Hòa Phái khó toan tiến bộ,
       Tịch-Cốc thi hành lố Thiên-Cơ,
               Mở Minh-Chơn-Lý kịp giờ,
Liên-Hoa Tổng-Hội thời cơ anh tài.
       Rồi lần đến Cao-Đài Hội Giáo,
       Mười hai chi Thầy tạo đủ rồi,
               Cao-Đài Thống Nhứt ra đời,
Thầy giao con hiệp coi thời ra sao?
       Trải bao năm phong trào sôi nổi,
       Để tự con trao đổi ý nhau,
               Thời gian im bặt qua mau,
Nay Thầy xem lại vẫn màu rẽ chia!
       Sự rẽ chia tại lìa căn bản,
       Thầy phân qua, chẳng hãn tường tri,
               Thầy dạy con hiệp, con qui,
Hiệp là không nghịch, qui y chơn truyền.
       Bề hình thức tư riêng mỗi phái,
       Là ý Thầy muốn dạy các con,
               Giao tay lãnh đạo hành tròn,
Dìu đường sanh chúng, phận con làm đầu.
       Mười hai phái do đâu mà có?
       Gốc Cao-Đài tách ngõ phân ra,
              Cũng như Thầy tạo cái nhà,
Có mười hai cửa vào ra tự lòng.
       Nhưng làm Chủ-Nhơn-Ông có một,
       Lại tỉ như giống tốt Thầy gieo,
               Mười hai thứ giống tùy theo,
Con nào muốn cấy giống nào cũng xong.
       Vỏ tuy khác mà trong vẫn gạo,
       Nấu chín rồi vẫn bảo là cơm,
               Dầu phân gạo nhỏ, gạo thơm,
Gạo nào thì cũng nuôi con no lòng.
       ĐẠO cũng thế, Thầy mong con trẻ,
       Dầu phái nào, chớ tẻ tách nhau,
               Dầu cho khác sắc, khác màu,
Chơn-truyền có một, không cao thấp gì.
       Đâu cũng gọi TAM-KỲ PHỔ-ĐỘ,
       Đâu cũng THẦY, danh ngã CAO-ĐÀI,
               Dầu cho đấy dở, đó hay,
Đỡ nưng mới phải, đừng bài bác nhau.

02.- TÌNH TẠO HÓA BAO TRÙM VẠN VẬT

02.- TÌNH TẠO HÓA BAO TRÙM VẠN VẬT

NAM-THÀNH THÁNH-THẤT, Tuất thời, mùng 1 tháng Giêng Ất Tỵ (2-2-1965)
* * *
      Thầy các con, Thầy mừng các con nam nữ:
Thi:
NGỌC đá không phân bởi trí phàm,
HOÀNG Thiên đâu phụ kẻ từ tâm;
THƯỢNG, trung, hạ vẫn là con cái,
ĐẾ, tướng, dân nào biệt Bắc Nam.
GIÁO dục quần sanh trong vạn kiếp,
ĐẠO truyền chánh pháp buổi kỳ tam,
NAM Thiên rộng mở chờ nguyên khách,
PHƯƠNG thế qui nguyên vững chí làm.
      Thầy miễn lễ, các con an tọa đẳng đẳng.
      Các con ôi! Nhân tiết Xuân về, Thầy đến với các con trong giữa thời đao binh chiến loạn. Thầy chạnh thương các con đã có công tâm, đạo đức với Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ. Tuy về phần thể chất, các con gọi là không may, nhưng về tinh thần âu cũng là một dịp để các con tiến hóa, hầu chứng minh lời tiên-tri của Thầy từ xưa là đúng.
      Các con ôi! Thầy là Chúa-Tể Càn-Khôn sanh ra muôn loài vạn vật, bao nhiêu cuộc tuần hoàn, dinh hư tiêu trưởng, đó là sự nhiệm mầu của Thầy đã định sẵn. Vì vậy mà đến buổi Hạ-Nguơn, Thầy đến xứ Việt-Nam này để khai Đạo, kêu gọi các bực nguyên nhân hãy sớm lập công bồi đức, hướng dẫn toàn thể sanh linh sớm tỉnh tu để về cõi trường tồn chánh giác, hoặc hưởng đời Thượng-Nguơn Thánh-Đức. Nguyên vị đã sẵn dành cho các bực nguyên căn tu hành chánh đạo và cũng dành để cho những kẻ tùng lương cải ác, sớm trở lại nguồn. Còn chốn Địa-Ngục A-Tỳ là chỗ trừng phạt những đứa bạo tàn hung ác và cũng để răn trị những hạng người tu hành ngụy trá.
      Hôm nay, Thầy đến với các con để vỗ về, an ủi, cùng chan rưới điển lành cho các con, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn, lớn bé, nguyên nhân cùng hóa nhân để các con hấp thụ linh điển đó mà bình tâm sáng suốt, chọn một con đường đi, khỏi lo chông gai hiểm trở. Đó là con đường Đạo: Tự giác, giác tha, bác ái, khoan dung. Vậy thì nơi đây, các con hãy trút tất cả những tâm tư, những buồn tủi, những giận hờn, những đau khổ, để Thầy an ủi, vỗ về, xoa dịu nỗi tâm tư.
      Lòng Tạo-Hóa từ bi bao trùm vạn vật, mở lượng khoan dung, dang tay từ ái đón rước tất cả sanh linh, đứa phải, đứa trái cũng là con cái của Thầy. Phải chi các con nhận thức con đường tiến hóa cao tột mà tiến theo cho thuận lẽ Trời hạp lòng người… Thầy ban lời khuyến dỗ.
      Các con ôi!
Thi bài:
       Tình Tạo-Hóa ban đều Vũ trụ,
       Đức háo sanh bao phủ càn khôn;
              Chuyển luân Nhựt, Nguyệt vong tồn,
Cỏ cây nhơn vật vô cùng hóa sanh.
       Mùa Xuân ấy Trời dành vạn vật,
       Mùa Xuân là tánh chất nước non;
              Chuỗi đời trăm hạt xây tròn,
Xuân về xoa dịu hàn ôn chuỗi đời.
       Xuất Ất-Tỵ giữa thời phong vũ,
       Xuân Lạc-Hồng lẫn thú đau thương;
              Đổi thay thế cuộc phi thường,
Con ôi! suy gẫm cho tường máy linh.
       Khắp nhân loại cùng tình huynh đệ,
       Một giống nòi là thể tay chơn;
              Không thương thì chớ nên hờn,
Đứa khôn, đứa dại, quả nhơn đền bù.
       Huống chi con người tu Đại-Đạo,
       Dưới chơn Thầy truyền giáo qui nguyên;
              Từ trong cửa Phật, Thánh, Tiên,
Mà không đạt lý diệu huyền hay sao?
       Con nhìn thấy Trời cao che chở,
       Con nhìn xem đất nở hoa mầu;
              Cỏ cây, nhơn vật một bầu,
Cũng đều hằng sống phép mầu Hóa Công.
       Lẽ chúng sanh vui lòng đẹp dạ,
       Khi mưa Thu, nắng Hạ rưới chan;
              Khi Xuân nở, khi Đông tàn,
Vận hành thời tiết nhơn gian cậy nhờ.
       Sao còn lúc thờ ơ, giận dũi,
       Sao còn hồi buồn tủi trách than?
              Rằng nóng bức, nào cơ hàn,
Rằng không ban phước đỡ nàn riêng tư.
       Trong khi đó, lòng Tự Phụ đã,
       Vẫn với tình Tạo-Hóa đương nhiên;
              Trời che, đất chở vô biên,
Công bình thưởng phạt nghiệp duyên nhơn loại.
       Kìa thế giới ngày nay biến loạn,
       Bởi người đời xao lãng lòng nhân;
              Kìa là Tôn giáo tranh phân,
Bởi người thiếu lẽ tình thân đại đồng.
       Con hỡi con! đau lòng chăng tá?
       Con hỡi con! xót dạ hay không?
...
...
       Nếu con giữ lập trường Chánh Đạo,
       Nếu con gìn lời bảo Chí-Tôn;
              Nâng đứa dại, học người khôn,
Nhủ khuyên kẻ quấy, bảo tồn người nguy.
       Gìn hạnh đạo từ-bi bác-ái,
       Thuận lòng Trời nhơn ngãi thương yêu;
              Giữa cơn nắng sớm mưa chiều,
Bao nhiêu gian khổ, bấy nhiêu hợp quần.
       Chi phái cũng tinh thần Đại-Đạo,
       Chùa, Thất đều hoài bảo nhơn sanh;
              Con đừng nê chấp cạnh tranh,
Rằng tà, rằng chánh rồi sanh giận hờn.
       Buổi sơ khai định phần luật lệ,
       Cùng chánh truyền, chánh thể, phân minh;
              Thì con học đó sửa mình,
Sao cho tài đức vị danh sánh bằng.
       Cũng có con năng oằn tâm Đạo,
       Cũng có con trọng bảo danh Thầy;
              Đứa thì củng-cố đó đây,
Đứa thì kêu gọi ngày ngày qui nguyên.
       Thầy không nỡ ngồi yên Bạch-Ngọc,
       Nhìn thấy con cười khóc hồng trần;
              Nam-Thành ngự bút tỏ phân,
Khuyên con giữ một tình thân đại đồng.
       Thầy không mượn lâu-đài, Chùa, Thất,
       Mượn lòng con chơn thật mà thôi;
              Không Chức sắc, không vị ngôi,
Mà còn khổ cực, còn hồi gian nan.
       Trước liệu lượng, sau toan hứa hẹn,
       Lãnh lịnh Thầy, đừng thẹn với Thầy,
              Thủy triều vận tải Đông, Tây,
Danh con được rạng, Đạo Thầy hoằng dương.
       Xuân Ất-Tỵ diễn tuồng nhơn quả,
       Gió Xuân hòa, lửa Hạ nấu nung;
              Hồng ân chan rưới khắp cùng,
Cho con trong cảnh lao lung khổ nàn.
Thi:
Khổ nàn chung chịu các con ôi!
Đâu phải yên thân với cảnh đời;
Chỉ có thương yêu là bảo vệ,
Tinh thần đạo đức vẹn mà thôi.
      Các con ôi! Xuân Ất-Tỵ, một mùa Xuân phong vũ, Thầy sẽ chan rưới hồng ân cho tất cả muôn loài để được trấn an tinh thần trong cơn biến loạn, chẳng phải riêng gì các con. Các con hãy nhìn vào quá trình trong bốn mươi năm Đại-Đạo, lịch sử ghi chẳng nên dòng, để các con nhớ lời Thầy dạy hôm nay hầu lập thân hành đạo.
Thi:
Hỡi các con ôi! Hỡi các con!
Bốn mươi Xuân chẵn Đạo chưa tròn;
Cõi bờ chia xẻ sầu nhơn loại,
.......
Cứu thế, hiền nhân cam nếm mật,
Độ đời, chí sĩ ngậm bồ hòn;
Nhưng rồi cũng đến Long-Hoa Hội,
Lừa lọc cho ra lẽ mất còn.
      Thầy thăng...

03.- CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ

03.- CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ

KHÔNG PHẢI LÀ MỘT CHI PHÁI

THIÊN LÝ ĐÀN, Tuất thời, 14 tháng giêng Ất-Tỵ (15-2-1965)
* * *
      NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ KIM VIẾT CAO-ĐÀI GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG.
      Thầy các con, Thầy mừng các con. Đàn nơi Thiên Lý tức là đàn Ngọ thời khai mạc Văn Phòng Phổ Thông Giáo Lý ngày mai và cũng có đôi phần kiểm thảo Thánh giáo để các con khỏi nóng lòng chờ đợi.
      Hỡi các con! Thầy đã chọn ngày Thiên-Quan Tứ Phước mở Văn phòng để các con nhờ hồng ân của Thầy mà lập công với Đạo. Thầy cho phép các con an tọa, nghe Thầy dạy đây:
      Hỡi các con! đời càng loạn, Đạo càng phải trị. Lấy tĩnh mà chế động, đó là phương pháp của Đạo cứu đời. Với cơ Đạo hiện giờ, thử hỏi các con có việc làm nào để xứng đáng với chức vụ ấy chưa?
      Các con là những điểm Linh-quang của Thượng-Đế phát sanh, đến ngày nay, bao nhiêu cuộc biến chuyển trước mắt các con, tức nhiên mỗi đứa đều phải có ý thức làm sống dậy trách nhiệm trước cơ Đạo cũng như đời.
      Các con cần ghi nhớ điều nầy: CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ không phải là một chi phái, cũng không phải của một cá nhân nào hay một đoàn thể nào, mà phải là của toàn Đạo, một nhịp cầu nối liền tình huynh đệ, một điện đài thâu và phát những động năng thúc đẩy cho sự thống nhất Giáo lý, tức là tinh thần vậy, để các con sẽ gặp nhau, quy nguyên ở vị trí duy nhất, tri và hành theo chánh pháp của Đại-Đạo.
      Trước hiện tình đặc biệt ngày nay, nhiệm vụ các con rất cần hơn lúc nào hết. Con không còn tìm ăn những bánh vẽ và trao bánh vẽ ấy cho kẻ khác cùng ăn; mà con phải ăn một thức ăn tinh thần và mỗi người đều thọ hưởng thức ăn tinh thần ấy, để có đủ năng lực sáng suốt, ngõ hầu đối phó với mọi hoàn cảnh hiện tại và xây đắp một nền tảng Giáo lý vững chắc ở tương lai.
      Thời gian không còn cho phép các con làm những bài thí nghiệm nữa. Các con ôi!
Thi:
Nhiệm mầu lý Đạo hỡi con ôi!
Dụng đức hy sinh để đắp bồi;
Chẳng nệ thân phàm không vị cả,
Đừng màng danh tục chẳng cao ngôi.
Nhịp cầu Giáo-lý xây non nước,
Guồng máy thiên-nhiên dựng Đạo đời;
Cứu cánh Nguyên-nhân kỳ mạt-hạ,
Vững vàng lèo lái giữa dòng khơi.
Bài:
       Thuyền Đại Đạo lướt trên biển tục,
       Tiếng còi linh vội giục nhơn sanh;
              Giữa hồi thế cuộc phân tranh,
Thì Tôn-giáo phải thực hành cứu nguy.
       Thập ngũ ngoạt đúng kỳ Tứ Phước,
       Ất-Tỵ niên đón rước Thiên-Quan;
              Ánh dương chiếu rọi huy hoàng,
Sáng soi tâm đạo của đoàn hy sinh.
       Thầy nhắc lại quá trình cơ Đạo,
       Buổi sơ khai xây tạo móng nền;
              Từ luật-lệ đến Chánh-truyền,
Đều do chơn-lý đồng-nguyên Tam Tòa.
       Cơ chuyển hóa chia ba tẻ bảy,
       Mạch lưu thông gầy Phái, lập Chi;
              Đều trong Đại-Đạo Tam-Kỳ,
Hóa hoằng Phổ-độ thống quy Chơn-truyền.
       Bởi thế cuộc đảo điên, điên đảo,
       Xui lòng phàm như bão, như giông
              Lỡ khi thuyền đến giữa dòng,
Giựt mình chợt tỉnh thì không bến bờ.
       Trách chi con, con khờ, con dại,
       Chỉ khuyên đừng, đừng cải, đừng canh;
              Kìa xem thế cuộc chiến tranh,
Bởi xa THƯỢNG-ĐẾ mà sanh trọng trầm.
       Thầy đã đặt cơ cầm khắp cả,
       Các Phái, Chi truyền bá Đạo Thầy;
              Nhưng còn có một việc nầy,
Là cơ ổn định tương lai vững vàng.
       Chí hy sinh cậy đoàn tâm Đạo,
       Lòng giúp đời tần tảo sớm trưa;
              Không nài dãi nắng dầm mưa,
Con thuyền bác-ái rước đưa đạo đồng.
       Gặp gỡ nhau trên đường Giáo-lý,
       Nhìn với nhau Tôn-chỉ Cao-Đài;
              Không còn chia biệt Đông Tây,
Không còn Phái nọ, Chi nầy, Phật, Tiên.
       Đây là đường quy-nguyên Tam Giáo,
       Cũng là giềng trọng bảo nước non;
              Là mong cứu kiếp sống còn,
Cho toàn lê thứ trong cơn hãi hùng.
       Con sẽ được tâm trung khoan khoái,
       Nhận việc làm đúng ngãi, đúng nhân;
              Vì Thầy, vì Đạo hy thân,
Trên dòng lịch sử sáng ngần Rồng Tiên.
      Hỡi các con! khi các con đã nhận thức việc nên làm và phải làm để hầu đặt mình trên nhiệm vụ thì các con hãy quan niệm việc lớn là tiền đồ Đại-Đạo và tương lai chủng tộc, mà đừng quan niệm ở HUỆ-LƯƠNG (Trần-Văn-Quế) hay THIỆN-BẢO (Ngô-Chí-Bình). Có vậy các con mới tránh được những hiểm nguy mà làm tròn bổn phận con người của con đối với Thầy, với Đạo và nhân loại.
      Đường con đi, thiên hạ cũng đang đi, việc con làm thiên hạ cũng đang làm, cũng như các Chi Phái trong Đại Đạo, từ Tòa-Thánh, Hội-Thánh, đến Thánh-Thất, cũng đang mở mang đường thiện, phổ truyền giáo lý trong đường hướng đạo đức, thì Cơ-Quan Phổ-Thông Giáo-Lý song song đồng hành và vượt một bước nữa là có nhiệm vụ tương trợ, giúp đỡ mọi mặt trên căn bản Đại-Đạo.
      Các con hãy sắp một cơ cấu, rèn luyện tín đồ các cấp, cũng như nhơn sanh, sao cho am tường giáo-lý căn bản của Đại-Đạo, rèn luyện cho xứng tài, xứng đức, xứng phẩm hạnh, để có thể chen vào hàng Giáo-phẩm, trình độ tương đương với các cấp Thiên-phong Chức-sắc các giới trong kỳ Đại-Hội Vạn-Linh. Vì việc sẽ tiến hành phải đòi hỏi một cơ cấu tối thiểu, chi nên Cơ-Quan Phổ-Thông Giáo-Lý sẽ lập ra thành Ban, dựa theo ba tiêu chuẩn đã dạy trong một đàn đầu Xuân Ất-Tỵ.
      Việc lập thành Ban không có ý nghĩa cai quản hoặc chỉ huy ai. Đó ví như bánh có khuôn, rắn có đầu, các tư kỳ phận mà thi hành chu đáo phần việc của mình. Đức hy sinh của đứa lớn sẽ làm sáng đức hy sinh của đứa nhỏ, thương-yêu, nương-níu, dìu-dẫn nhau, tha-thứ mọi sơ suất nếu có, để chung lưng đâu cật, phô trương giáo lý, tức là nguồn gốc của hạnh phúc cho nhân sanh và nhân loại.
      .............
      Thầy nhận thấy nơi đây có rất nhiều hồng quang điển do các con thiện tâm, thiện chí với Đạo, nên Thầy ban cho chung các con một lời nầy để ghi tâm, hầu vững bước trên đường Thiên-Đạo.
      Các con, bởi có duyên lành, nên mặc dầu trải qua bao cơn bão táp, mấy lúc khảo đảo, các con đã không thối chí ngã lòng, trái lại vẫn thiết tha vì tiền đồ cơ Đạo nên khăng khăng theo đuổi cho đến ngày giờ nầy, đa số các con hiện diện tại điện tiền hữu duyên mà lãnh lấy những lời khuyên dỗ của Thầy vừa qua. Các con chí muốn duy nhất là Đạo sớm thành, mà phải thành trên phương diện nào đó hỡi con?
      Đạo là chi? Rồi khi thành phải ra sao? Vậy thì Thầy giải đáp cho con hiểu:
      THƯỢNG-ĐẾ vị nhân sanh mà khai Đạo Pháp để con cái của Thầy học hỏi mà hành theo đúng Chánh-Pháp, đến ngày công quả viên mãn, sẽ trở về hiệp nhứt cùng Thầy. Lúc bấy giờ các con là Thầy, là Phật, Tiên, Thánh, Thần… Đó là đường lối tuyệt đích của Đạo.
      Còn trước cơ Đạo ngày nay, các con muốn thành, trước nhứt lòng con phải thành. Thành để hành cho đúng không cải canh, không thêm bớt, không chia rẽ, dụng đức hy sinh để cảm hóa cho nhau. Các con đừng e ngại không người dắt lối đưa đường, chỉ ngại cho lòng con chưa thành. Khi lòng con đã thành, tri, thuyết, hành như nhứt, thì các con sẽ thấy lý siêu việt đến với các con, là ngày mà cây Phổ-Thông Giáo-Lý đơm bông kết quả...

04.- HÃY HỌC VÀ HÀNH THEO CHÁNH PHÁP

04.- HÃY HỌC VÀ HÀNH THEO CHÁNH PHÁP

MINH-ĐỨC ĐÀN, Tuất thời, mùng 10-7 Ất Tỵ (6-8-1965)
* * *
      NGỌC-HOÀNG THƯỢNG-ĐẾ Kim Viết CAO-ĐÀI Giáo Đạo Nam Phương, Thầy các con, Thầy mừng các con đẳng đẳng...
      Các con! Nguơn Hội đáo kỳ, vạn vật đổi thay, Phật, Tiên, Thánh, Thần từ cõi Hư Vô đến trần gian giúp Thầy khai mối Đạo để cứu rỗi quần linh trở về nguồn gốc. Nơi cõi trung, hạ giới, các đẳng âm hồn, ngạ quỉ cùng đến cõi thế gian tranh nhau lập công bồi đức để trở lại cõi trường tồn chánh giác và cũng để dìu dẫn những tâm phàm bất chánh, vị kỷ vị thân, nương Đạo tạo đời, nhiễu hại nhân sinh, vào hố sâu vực thẳm.
      Bởi lý do đó nên Thầy thường dặn dò nhắc nhở các con hãy học hành theo đạo luật, pháp chánh, cùng Thánh Dụ Qui Điều, mới khỏi bị lầm lẫn giữa vàng thau bạc thiếc, đen trắng, sáng tối, thiệt hư.
      Các con rất diễm phúc mà được gặp đích thân Thầy đến mở đạo tại góc đất Việt Nam nầy, đem chánh pháp phổ truyền, đem lòng từ bi ân xá, để các con nào sớm giác ngộ cùng giác tha những kẻ còn đứng ngoài vòng Đạo Giáo trở về mái nhà lương thiện, cùng nhau hấp thụ điển lành cùng đạo lý, để làm động lực thúc đẩy bản thân thi hành công đức, phổ độ chúng sanh được thuần lương thiện mỹ, hầu tái lập đời Thượng-Nguơn Thánh-Đức.
      Thầy hằng nói: chi phái là đường hướng phổ độ chúng sanh, mà cũng là cửa ngõ mở rộng để yêu quái tà thần chen vào làm ly gián kế, hãm hại các con, xa Thầy phản bạn.
      Các con ôi! Hãy nhìn, kìa bao cuộc dinh hư tiêu trưởng của thế sự, rồi nhìn lại trên bước đường hành đạo của các con. Trước kia, Đạo Thầy khai chỉ có một, nhưng vì gặp những trường hợp đặc biệt, những cảnh trạng dị đồng, mà gây bao cảnh ly tán, diễn qua mấy lớp trong bốn chục thu dư, rồi đưa đến trạng huống ngày nay. Đau lòng không hỡi các con! Nếu Thầy có thể hiện thân Chúa Jésus, các con sẽ thấy những dòng máu đỏ chảy lan trên mảnh dư đồ chữ S. Nhưng các con sẽ thấy, nếu các con muốn, khi các con có động mối từ tâm.
      Các con ôi! hiện trạng đã chứng minh cho những gì Thầy đã nói. Ngày nay Chúa Jésus không hiện thân, mà chính những dòng máu đỏ đã chảy lan khắp cùng trên non sông đất Việt. Thầy thảm thương các con! Thầy rất đau lòng nhìn thấy cảnh trạng ngày nay, nhưng đó không phải đợi đến ngộ cảnh rồi kêu rên trong chỗ tiêu cực, mà chính Thầy đã biết trước và nói trước với các con cách đây bốn mươi năm dư.
      Thầy hằng khuyên các con: khi hiểu Đạo hãy mau bương hành Đạo, xây dựng Đạo. Nếu trễ một ngày là sanh chúng khổ một ngày, trễ mấy mươi năm thì nhân loại khổ mấy mươi năm. Tại vì đâu hỡi các con? Có phải bởi tư tâm, vì bản ngã ở chánh kiến, tại dị đồng, làm những chướng ngại vật cản ngăn lối bước của khách lữ hành trên đường cứu nhân độ thế. Chúng sanh đau khổ, chính Thầy đau khổ. Chúng sanh ly tán như lòng Từ-Phụ ly tán!
Thi:
Linh căn là hiện bản thân Thầy,
Một khối Linh Quang chiết xuống đây,
Chúng nó khổ đau, Thầy cũng thế,
Làm sao sớm dứt cảnh tình nầy.
      Các con ôi! Dòng nước muôn sông cũng đổ vào biển, nhánh nhóc cũng trở lại cội. Tam Giáo rồi cũng qui lại một nguồn xuất phát từ buổi khai Thiên lập địa. Hiểu như vậy để các con hằng ngày thận trọng trong việc làm, hòa hiệp đó đây, tương thân tương ái, liên giao đoàn kết để sửa soạn cho ngày Đạo Thầy thống nhứt, mà việc cầm cờ chạy hiệu, đứng mũi chịu sào, thành bại nên hư, là do bởi các con, vì các con là điển hình.
Thi:
Đời chẳng loạn ly, Đạo chẳng khai,
Đạo khai sắp đặt cuộc an bài,
An bài nhơn loại do hòa hiệp,
Hòa hiệp không còn ba, bảy, hai.
Thi bài:
       Tình Tạo-Hóa háo sanh muôn vật,
       Máy Kiền Khôn chất ngất chở che,
              Thu qua, Đông đến, Xuân, Hè,
Vận hành thời tiết tư bề dưỡng nuôi.
       Cõi phàm tục an ngôi định thứ,
       Chốn Hư Vô nắm giữ quyền năng,
              Hồng ân võ lộ rưới chan,
Sanh sanh, hóa hóa, trên đàng hóa sanh.
       Người mang máy tối linh xuống thế,
       Vạn vật đều chấp chế trị vì,
              Thiên nhiên màu sắc những chi,
Là Thầy tô điểm tân kỳ lịch xinh.
       Con có nhìn hiện tình sự thế,
       Hiện tình kìa dâu bể điêu linh,
              Hiện tình chiến họa đao binh,
Hiện tình non nước nhơn sinh khổ nàn.
       Thầy khai đạo là toan cứu cánh,
       Tỉnh thức con trong cảnh đau sầu,
              Đã không chia biệt Á, Âu,
Một dòng một giống lẽ đâu nở đành.
       Hỡi chức sắc đàn anh sứ mạng,
       Hỡi nhơn sanh dưới bảng Cao Đài,
              Tiên Thiên nhứt khí hóa khai,
Vạn thù qui nhứt không sai lẽ Trời.
       Vui chi con trong thời chiến loạn,
       Tranh chi con giả trạng vị ngôi,
              Bớt lần bày vẽ con ôi!
Đau lòng Từ Phụ nặng lời gièm pha!
       Con hãy giữ dỉ hòa vi quí,
       HÒA mới tường đạo lý cao siêu,
              Mới không phạm luật Thiên Điều,
Mới mong anh dắt em dìu sớm hôm.
       Đạo thống nhứt bao gồm toàn thể,
       Sử Đạo còn dành để chép ghi,
              Long Hoa Đại Hội trường thi,
Hữu công tắc thưởng, không vì, chẳng tư.
Thi:
Thầy chứng tâm thành lễ hiến dâng,
Đàn trung nam nữ gội thâm ân,
Gia công dìu dẫn trên đường đạo,
Mà giải oan gia nghiệp chướng lần.
      Thầy thượng ỷ, thăng...